1. Động cơ của đĩa CD-ROM khi quay liên tục thay đổi tốc độ, tuy vậy cho dù vị trí của một bộ phận gọi là bộ cảm biến được đặt trong mối tương quan với bán kính của đĩa, một phần của đĩa phía trên bộ cảm ứng luôn chuyển động với cùng một tốc độ.
Vòng quay không đổi: các đĩa từ như các đĩa được sử dụng trong ổ đĩa cứng, có dữ liệu được sắp xếp trong các vòng tròn đồng tâm được gọi là các rãnh ghi đồng tâm (track), các vòng tròn đồng tâm được chia xuyên tâm thành các cung từ. Sử dụng một hệ thống gọi là hằng số vận tốc góc, đĩa từ luôn quay với một vận tốc không đổi; các track gần biên chuyển động nhanh hơn các track ở gần vùng trung tâm. Bởi vì các cung từ phía ngoài di chuyển qua các đầu ghi-đọc nhanh hơn nên chúng phải có cấu trúc vật lí lớn hơn để chứa cùng một lượng dữ liệu như các cung từ bên trong. Kiểu định dạng này lãng phí nhiều không gian lưu trữ nhưng cực đại hoá tốc độ mà dữ liệu có thể được lấy ra.
Vòng quay thay đổi: thông thường, các đĩa CD-ROM sử dụng một hệ thống khác hơn so với các đĩa từ để chia ra các miền của đĩa mà dữ liệu được ghi. Thay vì một vài track được sắp xếp trong các vòng tròn đồng tâm, trên đĩa CD-ROM dữ liệu được chứa trong một track đơn với các đường xoắn ốc từ trong ra ngoài. Các rãnh ghi đồng tâm vẫn được chia bởi các cung từ, tuy nhiên mỗi cung từ giống nhau về kích thước vật lí. Sử dụng một phương pháp gọi là hằng số vận tốc tuyến tính, ổ đĩa thay đổi liên tục tốc độ mà đĩa đang quay do đó bộ cảm biến chuyển động về phía trung tâm của đĩa làm cho tốc độ của đĩa nhanh hơn. Kết quả là một đĩa CD có thể chứa nhiều cung từ hơn một đĩa từ và do đó ghi được nhiều dữ liệu hơn.
2. Ánh sáng laze phóng ra một chùm sáng hội tụ, chúng hội tụ qua một lăng kính và cuộn dây hội tụ thậm chí xa hơn.
3. Tia laze xuyên qua một lớp nhựa bảo vệ và chiếu vào lớp phản xạ, lớp phản xạ này giống như một lá nhôm trên mặt đáy của đĩa.
4. Bề mặt của lớp phản xạ xen kẽ giữa các land và pit. Land là những vùng có bề mặt bằng phẳng, pit là những chỗ lõm trên lớp phản xạ. Hai bề mặt này là một bản ghi được sử dụng để lưu trữ dữ liệu dưới dạng mã 1 và 0.
5. Ánh sáng đập vào một pit bị tán xạ, ánh sáng đập vào land bị phản xạ trực tiếp trở lại bộ cảm biến, ở đây ánh sáng chiếu qua lăng kính, lăng kính này khúc xạ chùm tia laze phản xạ đến một điốt cảm quang.
6. Mỗi xung tín hiệu của ánh sáng đập vào điốt cảm quang tạo ra một điện áp nhỏ. Các điện áp này được nối với một mạch định thời để tạo ra một dòng các mã 0 và 1 mà máy tính có thể hiểu được.
Vòng quay không đổi: các đĩa từ như các đĩa được sử dụng trong ổ đĩa cứng, có dữ liệu được sắp xếp trong các vòng tròn đồng tâm được gọi là các rãnh ghi đồng tâm (track), các vòng tròn đồng tâm được chia xuyên tâm thành các cung từ. Sử dụng một hệ thống gọi là hằng số vận tốc góc, đĩa từ luôn quay với một vận tốc không đổi; các track gần biên chuyển động nhanh hơn các track ở gần vùng trung tâm. Bởi vì các cung từ phía ngoài di chuyển qua các đầu ghi-đọc nhanh hơn nên chúng phải có cấu trúc vật lí lớn hơn để chứa cùng một lượng dữ liệu như các cung từ bên trong. Kiểu định dạng này lãng phí nhiều không gian lưu trữ nhưng cực đại hoá tốc độ mà dữ liệu có thể được lấy ra.
Vòng quay thay đổi: thông thường, các đĩa CD-ROM sử dụng một hệ thống khác hơn so với các đĩa từ để chia ra các miền của đĩa mà dữ liệu được ghi. Thay vì một vài track được sắp xếp trong các vòng tròn đồng tâm, trên đĩa CD-ROM dữ liệu được chứa trong một track đơn với các đường xoắn ốc từ trong ra ngoài. Các rãnh ghi đồng tâm vẫn được chia bởi các cung từ, tuy nhiên mỗi cung từ giống nhau về kích thước vật lí. Sử dụng một phương pháp gọi là hằng số vận tốc tuyến tính, ổ đĩa thay đổi liên tục tốc độ mà đĩa đang quay do đó bộ cảm biến chuyển động về phía trung tâm của đĩa làm cho tốc độ của đĩa nhanh hơn. Kết quả là một đĩa CD có thể chứa nhiều cung từ hơn một đĩa từ và do đó ghi được nhiều dữ liệu hơn.
2. Ánh sáng laze phóng ra một chùm sáng hội tụ, chúng hội tụ qua một lăng kính và cuộn dây hội tụ thậm chí xa hơn.
3. Tia laze xuyên qua một lớp nhựa bảo vệ và chiếu vào lớp phản xạ, lớp phản xạ này giống như một lá nhôm trên mặt đáy của đĩa.
4. Bề mặt của lớp phản xạ xen kẽ giữa các land và pit. Land là những vùng có bề mặt bằng phẳng, pit là những chỗ lõm trên lớp phản xạ. Hai bề mặt này là một bản ghi được sử dụng để lưu trữ dữ liệu dưới dạng mã 1 và 0.
5. Ánh sáng đập vào một pit bị tán xạ, ánh sáng đập vào land bị phản xạ trực tiếp trở lại bộ cảm biến, ở đây ánh sáng chiếu qua lăng kính, lăng kính này khúc xạ chùm tia laze phản xạ đến một điốt cảm quang.
6. Mỗi xung tín hiệu của ánh sáng đập vào điốt cảm quang tạo ra một điện áp nhỏ. Các điện áp này được nối với một mạch định thời để tạo ra một dòng các mã 0 và 1 mà máy tính có thể hiểu được.
0 comments:
Post a Comment
[▼/▲] More Emoticons